NGỮ VĂN: TỔNG HỢP TRI THỨC ĐỌC HIỂU THEO THỂ LOẠI

Đọc hiểu văn bản không chỉ là đọc – mà còn là giải mã tư duy, ngữ nghĩa và dụng ý của tác giả. Để làm chủ kỹ năng đọc hiểu, người học cần nắm rõ đặc trưng của từng thể loại văn bản: từ tự sự, thơ, thuyết minh, nghị luận đến văn học nghệ thuật và thông tin hiện đại.
Tài liệu này tổng hợp hệ thống kiến thức cốt lõi, phương pháp phân tích đặc trưng và chiến lược trả lời câu hỏi theo từng thể loại – giúp bạn không chỉ học để thi, mà còn đọc để hiểu sâu và nghĩ rộng.

PHẦN D: KÍ (TẢN VĂN, TÙY BÚT)

Là thể loại văn học coi trọng sự thật và trải nghiệm, chứng kiến của ng viết. (Thiên kể sự việc: hồi kí, du kí, … Thiên biểu cảm như tùy bút, tản văn)

1. TẢN VĂN TÙY BÚT

Tản văn: là loại văn xuôi ngắn gọn, hàm súc có cách thể hiện đa dạng, nhưng đều mang tính chất chấm phá, bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc qua người viết qua các hiện tượng đơi sống thường nhật.
Tuỳ bút: là một thể trong kí dùng để ghi chép, miêu tả những hình ảnh, sự việc mà người viết quan sát, chứng kiến; đồng thời chú trong cảm xúc, tình cảm của tác giả trước các hiện tượng và vấn đề đời sống.
– Chất trữ tình trong tản văn, tùy bút: là yếu tố đc tạo từ vẻ đẹp của cảm xúc, suy nghĩ, vẻ đẹp thiên nhiên tạo vật để tạo nên rung động thẩm mĩ cho người đọc.
– Cái tôi trong tùy bút, tản văn: là yếu tố thể hiện cảm xúc, suy nghĩ riêng của tác giả qua văn bản. (thường nhận biết qua ngôi thứ nhất).  
Ngôn ngữ trong trong văn, tùy bút: thường tinh tế, sống động, mang hơi thở đời sống, giàu hình ảnh, chất trữ tình.

2. HỒI KÝ

–  Chủ yếu kể những sự việc mà người viết đã từng tham gia/chứng kiến trong quá khứ. Sự việc theo trình tự thời gian, gắn với một hoặc nhiều giai đoạn trong cuộc đời tác giả. Nhân vật xưng “tôi” là hình ảnh tác giả.
Người kể chuyện ngôi thứ nhất trong hồi kí (xưng “tôi”, chúng tôi”) mang hình bóng tác giả nhưng không hoàn toàn đồng nhất với tác giả, vì có khoảng cách về tuổi tác, thời gian, nhận thức, quan niệm,…
Hình thức ghi chép và cách kể sự việc trong hồi kí: “ghi chép” hiểu theo nghĩa thông thường, là việc chuẩn bị nguồn tư liệu về những điều có thật, đã xảy ra để viết nên tác phẩm. Tư liệu được “ghi chép” để viết hồi kí phải đảm bảo độ xác thực, tin cậy. Nhưng “ghi chép” hiểu cách khác cũng chính là viết, kể, sáng tác. Theo cách hiểu này, ng viết hồi kí không thể bê nguyên cái có thật, từng xảy ra ngoài đời vào văn bản mà phải “ghi” sao cho thành chuyện và “kể” sao cho hấp dẫn, sâu sắc.

3. DU KÝ

Chủ yếu kể về những sự việc mới diễn ra hoặc diễn ra gắn với chặng đường trong hành trình tìm hiểu những vùng đất nước kì thú của nhân vật và tác giả. Nhân vật xưng “tôi” là hình ảnh tác giả.

PHẦN E: KỊCH

1. HÀI KỊCH

Hài kịch là một thể loại kịch dùng biện pháp gây cười để chế giễu các tính cách và hành động xấu xa, lố bịch, lỗi thời của con người. Lão hà tiện, Tác-tuyp (Tartulfe), Trưởng giả học làm sang của Mô-li-e (Molière)… là những kiệt tác về hài kịch. Hài kịch mang đầy đủ các đặc điểm chung của kịch, đồng thời thể hiện đặc điểm riêng qua các yếu tố như: nhân vật, hành động, xung đột, lời thoại, thủ pháp trào phúng,
Nhân vật của hài kịch là đối tượng của tiếng cười, gồm những hạng người hiện thân cho các thói tật xấu hay những gì thấp kém trong xã hội. Tính cách của nhân vật hải kịch được thể hiện qua những biến cố dẫn đến sự phơi bảy, phê phán cái xấu.
Hành động trong hài kịch là toàn bộ hoạt động của các nhân vật (bao gồm lời thoại, điệu bộ, cử chỉ…) tạo nên nội dung của tác phẩm hài kịch. Hành động thể hiện qua lời thoại dưới các dạng tấn công – phản công; thăm dò – lảng tránh; chất vấn – chối cãi; thuyết phục – phủ nhận/ bác bỏ, cầu xin – từ chối; Mọi hành động lớn nhỏ trong kịch nói chung, hài kịch nói riêng đều dẫn tới xung đột và giải quyết xung đột, qua đó, thể hiện chủ đề của tác phẩm.
Xung đột kịch thường nảy sinh dựa trên sự đối lập, mâu thuẫn tạo nên tác động qua lại giữa các nhân vật hay các thế lực. Có nhiều kiểu xung đột: xung đột giữa cái cao cả với cái cao cả, giữa cái cao cả với cái thấp kém, giữa cái thấp kém với cái thấp kém… Trong hài kịch, do đặc điểm, tính chất của các nhân vật, xung đột thường diễn ra giữa cái thấp kém với cái thấp kém. Ví dụ: xung đột giữa những kẻ có mưu đồ đen tối với nhau hay xung đột giữa thói keo kiệt, bủn xỉn của một kẻ cho vay nặng lãi với nhu cầu tiêu pha lãng phí của những đứa con hư…
Lời thoại là lời của các nhân vật hài kịch nói với nhau (đối thoại), nói với bản thân (độc thoại) hay nói với khán giả (bảng thoại), góp phần thúc đẩy xung đột hài kịch phát triển.
Lời chỉ dẫn sân khấu là những lời chú thích ngắn gọn của tác giả biên kịch (thưởng để trong ngoặc đơn) nhằm hướng dẫn, gợi ý về cách bài trí, xử lí âm thanh, ánh sáng, việc vảo – ra sân khấu của diễn viên thủ vai nhân vật củng trang phục, hành động, cử chỉ, cách nói năng của họ…
Thủ pháp trào phúng: Hài kịch thưởng sử dụng các thủ pháp trào phúng như phóng đại tinh phi lô-gíc, tính không hợp tình thế trong hành động của nhân vật (hành vi, lời nói, cử chỉ, trang phục…); các thủ pháp tăng tiến, giễu nhại, mỉa mai; lối nói hóm hỉnh, lối chơi chữ, lối nói nghịch lý…

2. BI KỊCH

– Bi kịch là thể loại kịch tập trung khai thác những xung đột gay gắt giữa khát vọng cao đẹp của con người với tình thế bi đát của thực tại, dẫn tới sự thảm bại hay cái chết của nhân vật. Từ kết cục bi thương đó, bi kịch thường mang đến cho người đọc những bài học quý giá và tinh thần lạc quan.
– Nhân vật của bi kịch dù là nhân vật chính hay nhân vật phụ đều hiện thân cho các thế lực đối lập trong xã hội. Nhân vật chính trong bi kịch thường có bản chất tốt đẹp, có khát vọng vượt lên và thách thức số phận, nhưng cũng có thể có những nhược điểm, sai lầm dẫn đến phải trả giá đắt, thậm chí bằng cả cuộc đời của mình và những gì mình trân trọng. – Xung đột trong bi kịch là nhân tố tổ chức tác phẩm kịch, thể hiện sự va chạm, đấu tranh, loại trừ giữa các thế lực đối lập (các mặt khác nhau của cùng một tính cách, các tính cách nhân vật khác nhau, giữa tính cách nhân vật với hoàn cảnh).Nếu xung đột trong hài kịch thường nảy sinh giữa cái thấp kém và cái thấp kém thì xung đột trong bi kịch thường nảy sinh giữa cái cao cả với cái cao cả, giữa cái cao cả với cái thấp kém.
– Cốt truyện bi kịch thường là một chuỗi các sự kiện, biến cố trong câu chuyện kịch tạo nên sự phát triển xung đột, cũng như sự phát triển hành động và tính cách của các nhân vật. Chuỗi sự kiện biến cố đó thường dẫn đến những tổn thất, đau thương trong cuộc đời nhân vật chính.
– Hành động trong bi kịch là toàn bộ hoạt động của các nhân vật thông qua lời thoại, ngữ điệu, cử chỉ, biểu cảm,… nhằm thể hiện thế giới nội tâm, tình cảm con người và kết nối sự kiện, làm nên sự phát triển của cốt truyện bi kịch. Cũng như hành động của nhân vật nói chung, hành động của các nhân vật bi kịch bao gồm: hành động bên ngoài (lời nói, cư xử, hoạt động,…) và hành động bên trong (sự chuyển biến nội tâm, các độc thoại nội tâm,…).
– Lời thoại trong bi kịch: cũng như trong kịch nói chung, lời thoại trong bi kịch gồm đối thoại, độc thoại, bàng thoại. Điểm khác biệt là lời thoại trong bi kịch thường mang tính chất trang trọng, triết lí, thể hiện quan điểm, ý chí và hành động tranh đấu của nhân vật bi kịch.

3. VAI TRÒ CỦA NGƯỜI ĐỌC VÀ BỐI CẢNH TIẾP NHẬN ĐỐI VỚI VIỆC ĐỌC HIỂU TÁC PHẨM VĂN HỌC

– Theo quan điểm tiếp nhận văn học hiện đại, các sản phẩm sáng tạo nghệ thuật của nhà văn, nhà thơ chỉ tồn tại như những khả năng, những khơi gọi dưới hình thức văn bản ngôn từ. Tác phẩm văn học chỉ thực sự tồn tại trong tâm thức của người đọc qua quá trình tiếp nhận. Bằng trí tưởng tượng, kinh nghiệm sống, vốn hiểu biết và trải nghiệm văn học, đặc biệt là khả năng tiếp nhận văn học theo thể loại, người đọc làm sống dậy thế giới hình tượng, “đồng sáng tạo” với tác giả để hiểu nội dung, ý nghĩa của tác phẩm văn học theo cách riêng của mình. Tiếp nhận văn học, vì vậy, là một quá trình chủ động, tương tác tích cực giữa người đọc và văn bản.
– Tuy nhiên, việc đọc hiểu tác phẩm văn học của độc giả lại phụ thuộc vào bối cảnh tiếp nhận của họ. Bối cảnh ấy là hoàn cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội tại thời điểm độc giả đọc tác phẩm. Ví dụ: Cùng một tác phẩm văn học viết về chiến tranh nhưng hiệu ứng tác động và ý nghĩa của nó mang lại cho người đọc có thể rất khác nhau khi tác phẩm đó được đọc trong hai bối cảnh khác nhau: hoàn cảnh đất nước có chiến tranh và hoàn cảnh đất nước hòa bình.

NGỮ VĂN: TỔNG HỢP TRI THỨC ĐỌC HIỂU THEO THỂ LOẠI
NGỮ VĂN: TỔNG HỢP TRI THỨC ĐỌC HIỂU THEO THỂ LOẠI

Bài viết liên quan

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Hệ Thống Giáo Dục Trí Việt IELTS Master

logo-horizontal

Địa chỉ

107 đường số 5, Phường Bình Trị Đông B, Quận Bình Tân, Tp.HCM

Giờ làm việc

Thứ Hai – Thứ Sáu: từ 17:00 đến 21:00

Thứ Bảy: từ 15:00 đến 21:00

Chủ nhật: từ 08:00 đến 19:30

Powered by Engonow